Giới thiệu sách về Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn
Tam nguyên Bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726-1784) quê làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, tỉnh Thái Bình (nay là thôn Đồng Phú, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Cha là Tiến sĩ Lê Trọng Thứ làm quan đến chức Hình bộ Thượng thư và được phong tước Hầu, từng nổi danh là một học quan thanh liêm, cương trực; mẹ là bà Trương Thị Ích xuất thân trong một gia đình danh giá ở làng Nguyên Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), là con gái của Tiến sĩ Trương Minh Lượng - một vị quan có nhiều danh tiếng và lòng yêu nước.
Bình sinh Lê Quý Đôn có hai hoài bão lớn: Hoài bão kinh bang tế thế giúp đất nước yên dân và hoài bão đọc sách, viết sách. Hoài bão đọc sách, viết sách là sở trường là mục đích nhân sinh của Lê Quý Đôn ngay từ thuở thiếu thời cho đến khi nhắm mắt. Trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến không ai đọc nhiều và viết nhiều như Lê Quý Đôn. Hình bộ Thượng thư Trần Danh Lâm là bạn thân đồng triều của Ông đã viết: “Lê Quý Đôn người huyện Diên Hà, không sách gì không đọc, không sự vật gì không suy xét đến cùng, ngày thường ngẫm nghĩ được điều gì đều viết ra thành sách, sách chứa đầy bàn, đầy tủ, kể ra khôn xiết”.
Nhờ sức đọc và sức viết siêu phàm Lê Quý Đôn đã để lại một sự nghiệp trước tác đồ sộ. Suốt cả cuộc đời Lê Quý Đôn đã lặn lội với thực tế để hành động và kiểm nghiệm được những gì ông đã viết, đã đọc. Theo nhiều nguồn sử liệu thì Lê Quý Đôn đã viết tới hơn 50 bộ sách nhưng nhiều cuốn đã bị thất lạc. Mặc dù vậy, đến nửa đầu thế kỷ XIX, sử gia Phan Huy Chú vẫn còn giới thiệu được khá tỉ mỉ nội dung 16 bộ sách của Lê Quý Đôn như: Lê triều thông sử, Quốc triều tục biên, Dịch kinh phu thuyết, Thư kinh diễn nghĩa, Quần thư khảo biện, Liêu châu thi tập, Quế Đường thi tập, Quế Đường văn tập, Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt văn hải, Trí sĩ trường văn tập, Phủ biên tạp lục, Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Âm chất văn chú và Danh thần lục.
Với sự nghiệp trước thuật, Lê Quý Đôn đã trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Ông cũng là một trong những danh nhân kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam, được vinh danh là nhà bác học lớn nhất Việt Nam thời phong kiến.
Nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh của danh nhân Lê Quý Đôn (02/8/1726 - 02/8/2026), Thư viện tỉnh Hưng Yên xin trân trọng giới thiệu bộ sách “Lê Quý Đôn tuyển tập” của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành từ năm 2007-2009 do Nguyễn Khắc Thuần dịch, hiệu đính và chú thích dựa trên cơ sở nguyên bản Hán văn được lưu trữ tại Thư viện của Viện Khảo cổ Sài Gòn. Bộ sách gồm 08 tập trong mỗi tập có in kèm bản Hán văn.
Tập 1: “Đại Việt thông sử” dày 644 trang.

Sách được viết xong vào năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749). Đây là bộ sách sử viết theo thể kỷ truyện đầu tiên trong lịch sử sử học của Việt Nam. Theo lời tựa của tác giả thì đây là một bộ “đại điển của một triều đại” được viết theo lối chí truyện. Lê Quý Đôn viết bản này theo phương châm: “Nhặt đủ không bỏ sót, để cho người ta sau khi mở sách ra xem, rõ được manh mối, biết được đầu đuôi, tuy không mắt thấy tai nghe, mà rõ ràng như chính mình được thấy”.
Sau bài phàm lệ, nêu những ý nghĩa cơ bản gồm 10 điều để ở đầu sách.
Phần chính văn gồm các quyển:
Đế Kỷ của “Đại Việt thông sử” chép về các vua thời Lê từ Lê Thái Tổ qua Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiển Tông, Lê Thuần Tông (Túc Tông), Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông đến Cung Hoàng (Hoàng Đệ Xuân), trải qua 10 đời vua trong một thời gian dài đến hơn 100 năm. Trong mười đời vua hiện chỉ còn tư liệu về quá trình hình thành, phát triển và thắng lợi vang dội của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại do Lê Lợi khởi xướng, lãnh đạo và giới thiệu khái quát về nước Đại Việt thời Lê Sơ (Lê Thái Tổ).
Các chí được phân theo từng việc từng loại: Theo Tần Thư, Tùy Thư và Tống sử thì sách này có 15 chí, nhưng trong “Đại Việt thông sử” chỉ có một chí là Nghệ văn chí.
Các truyện được phân theo thứ tự: Hậu phi và dòng họ của nhà vua; Công thần tướng võ, tướng văn, nhà nho học; người tiết nghĩa, cao sĩ, liệt nữ, phương kỹ; các họ ngoại thích; nịnh thần, gian thần, nghịch tặc; tử di (các nước nhỏ ở quanh biên giới). “Đại Việt thông sử” hiện có chỉ thấy chép các truyện về hậu phi, đế hệ, công thần và nghịch thần.
Trong Lịch triều hiến chương loại chí phần Văn tịch chí Phan Huy Chú có viết: “Sách Lê triều thông sử gồm 30 quyển do bảng nhãn Lê Quý Đôn soạn,… Bộ sách của ông rất đầy đủ rõ ràng, có thể là một bộ sử hoàn toàn của một triều đại”. Như vậy Phan Huy Chú đã đọc “Lê Triều thông sử” khi bộ sách còn đầy đủ.
Trong khi ghi chép các sự kiện Lê Quý Đôn rất khách quan. Tư tưởng chính thống của Nho giáo khiến ông coi nhà Mạc là “ngụy”. Nhưng khi trình bày các sự kiện lịch sử từ lúc Hoàng Đăng Dung giết Hoàng Đệ Xuân (Cung Hoàng) và cướp ngôi vua nhà Lê, ông đã trình bày các sự kiện theo thực tế. Do đó, qua “Đại Việt thông sử” chúng ta thấy được các việc làm của họ Mạc một cách tương đối rõ ràng.
“Đại Việt thông sử” là một bộ sử lớn có giá trị. Giá trị này không những thể hiện ở chỗ nó được biên soạn đầu tiên theo thể tài kỷ truyện mà còn chứa đựng nhiều tư liệu mà các bộ sử khác không có. Mặc dầu không còn nguyên vẹn nhưng “Đại Việt thông sử” vẫn là bộ sách có ích cho những người làm công tác nghiên cứu lịch sử dân tộc thế kỷ XVI-XVII.
Tập 2,3: “Phủ biên tạp lục”.
“Phủ biên tạp lục” là tập bút ký của Lê Quý Đôn viết về Đàng trong, chủ yếu là hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam từ thế kỷ 18 trở về trước. Sách được viết năm Cảnh Hưng 37 (1776).
“Phủ biên” có nghĩa là phủ dụ, trấn an vùng biên thùy hay là chính sách trấn an vùng biên giới. “Tạp lục” là ghi chép những sự kiện xảy ra cùng những phương sách đối xử, giải quyết trong thời gian ấy. Sách được viết vào thời kỳ Lê Quý Đôn vâng lệnh vua Lê phái đi đảm nhiệm trông coi hai đạo Thuận Hóa và Quảng Nam. Thời đó ranh giới bờ cõi Việt Nam giáp Chiêm Thành. Sách gồm 06 quyển chia thành 2 tập:
Tập 2. Phần 1 gồm quyển 1,2,3, dày 551 trang.
Quyển 1: Nói về sự tích khai mở, xây dựng và khôi phục hai xứ Thuận hóa và Quảng Nam. Tài liệu trình bày những thông tin quan trọng về kinh tế xã hội của xứ Đàng trong.
Quyển 2: Hình thế sông, núi, các thành lũy trị sở, đường xá, bến trạm hai xứ. Trong phần này ông trình bày danh mục và địa chỉ của tất cả các làng xã, thôn ấp, phường giáp, trang trại thuộc các tổng huyện phủ của 2 xứ Thuận Hóa và Quảng Nam vào cuối thời chúa Nguyễn; cung cấp những hiểu biết về các làng nghề địa phương tại Đàng trong.
Quyển 3: Sổ ngạch công điền, tư điền, điền tạng, bãi nổi và tổng số thóc gạo trưng thu theo lệ cũ ở hai xứ lệ thuế sai dư về sự thành lập và hoạt động của các ty, các trấn và thể lệ thi cử; số ngạch nhân đinh tuyển lính, tổng số các hạng lính bị giảm, bắt và đóng ở các đồn và lập trường võ theo thể lệ cũ. Kết nối các sự kiện, địa danh và hàng loạt người đọc có được bức chân dung của xứ Đàng trong về vai trò lịch sử của các chúa Nguyễn đối với đất phương Nam.
Tập 3. Phần 2 gồm quyển 4,5,6 dày 549 trang.
Quyển 4: Thuế lệ các tuần ty ở ngọn nguồn, hồ, đầm, chợ, đò, thuế vàng bạc, sắt đồng và thể lệ chuyên chở.
Quyển 5: Nhân tài thơ văn xứ Đàng trong: Giới thiệu các nhân tài văn chương của 02 xứ, trích nhưng bài thơ hay của từng vị như: Nguyễn Cư Trính, Nguyễn Quang Tiền, Ngô Thế Lân,…
Quyển 6: Sản vật, phong tục: Ghi chép cụ thể từng xã, châu huyện có những phẩm vật hoặc phong tục.
“Phủ biên tạp lục” là tác phẩm có giá trị lớn không chỉ dành cho các nhà nghiên cứu sử học, kinh tế học, địa lý học mà còn cho những nhà nghiên cứu văn học và sinh vật học.
Tập 4,5: “Kiến văn Tiểu lục”

Sách được viết vào mùa hè năm Cảnh Hưng 38 (1777). Đây là tập bút ký của Lê Quý Đôn ghi chép lại nhưng điều đã đọc được từ các tài liệu có liên quan tới lịch sử văn hóa Việt Nam từ cuối đời Trần đến đời Lê Quý Đôn. Sách gồm 1 lời tựa và 12 phần chia thành 9 thiên: Châm cảnh, thể lệ thượng, thiên chương, tài phẩm, phong vực, thiền giật, linh tích và tùng đàm. Như vậy “Kiến văn tiểu lục” thực tế đã thiếu 04 phần là thể lệ hạ, phong vực trung, phong vực hạ và phương thuật.
Tập 4. Phần 1 gồm quyển 1,2 và 4 dày 720 trang nội dung gồm:
Châm cảnh: Ghi chép một số câu triết ngôn và hành vi của một số nhân vật lịch sử Trung Quốc và Việt Nam nhằm khuyên răn giáo dục người đương thời.
Thể lệ thượng: Ghi chép các lễ văn, chế độ các triều đại Lý, Trần, Lê.
Thiên chương: Ghi chép tên những nhân vật đã làm những bài bia, bài minh ở các chùa, quán, các triều Lý, Trần và giới thiệu phê bình một số thơ văn.
Tập 5. Phần 2 gồm quyển 5,6, 9,10 và 12 dày 658 trang nội dung:
Tài phẩm: Ghi chép về tài năng, phẩm hạnh, … của một số nhân vật lịch sử.
Phong vực: Ghi chép về núi sông, sản vật thuế khóa, đường sá,… các trấn Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang.
Thiền giật (Phật giáo): Ghi chép về các nhà sư Việt Nam từ thời Bắc thuộc cho đến thời Hậu Lê.
Linh tích (dấu thiêng): Ghi chép về các đền, miếu thờ các thiên thần, nhân thần và 26 truyện nhỏ.
Tùng đàm (chuyện vặt): Ngoài việc đính chính một số câu đối, câu văn của người Trung Quốc, có chép 14 mẩu truyện về các nhân vật triều Trần, triều Lê,…
“Kiến văn tiểu lục” là một tác phẩm có giá trị ở nhiều mặt. Về văn học “Kiến văn tiểu lục” cho chúng ta hiểu biết thêm về thơ văn của thời cổ, phục vụ tốt cho các nhà nghiên cứu văn học cổ. Về địa lý cung cấp cho chúng ta nhiều chi tiết về các trấn Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang và biết khá chi tiết quãng đường đi đến Hà Giang và Điện Biên Phủ trong thời hậu Lê. Giá trị lớn nhất của tác phẩm là giá trị lịch sử, đã cho chúng ta biết được nhạc và vũ đời Trần cũng như phong tục ăn mặc của con người thời Trần. Những câu triết ngôn và lời diễn giải của Lê Quý Đôn phần lớn không thích dụng với thời đại của chúng ta, nhưng đã phản ánh được trạng thái tư tưởng và hình thái ý thức của người Việt thời Lý, Trần, Lê. Trong phần thiền dật, phần linh tích và thiên chương các nhà nghiên cứu có thể tìm kiếm tài liệu hiểu biết về Phật giáo, Đạo giáo ở Việt Nam.
Tập 6,7,8: “Vân đài loại ngữ”
Bộ sách được viết xong vào cuối thu năm Quý Tỵ (1773). Nội dung gồm một bài tựa của Tiến sĩ Nhập thị Bồi tụng, Hình bộ Thượng thư Trần Danh Lâm, một bài tựa của tác giả, một mục lục dẫn và 9 quyển: Đây là bộ bách khoa toàn thư, tập hợp và sắp xếp những tri thức về nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, được sắp xếp thành 9 đề mục với 967 điều:
Tập 6. Phần 1 gồm quyển 1,2, 3 dày 562 trang nội dung viết về: Lí khí (Vũ trụ luận) gồm 54 điều, Hình tượng (Vũ trụ học) gồm 38 điều và Khu vũ (Địa lý) gồm 93 điều.
Tập 7. Phần 2 gồm quyển 4,5,6,7 dày 724 trang nội dung viết về: Vựng điển (Điển lệ chế độ) 120 điều, Văn nghệ 48 điều, Âm tự (văn tự, ngôn ngữ) 111 điều và Thư tịch (sách vở) 107 điều.
Tập 8. Phần 3 gồm quyển 8,9 dày 700 trang nội dung viết về Sĩ quy (phép làm quan trị dân) 76 điều và Phẩm vật (vật loại tự nhiên, vật kiện xã hội) 320 điều.
Khi biên soạn Lê Quý Đôn làm theo phương pháp riêng. Trong khi đọc sách ông đã ghi lại những điều cần thiết, chất chứa lâu ngày thành tập giấy, sau đó mới xếp thành từng loại. Mỗi khi ghi xong một sự việc một đoạn văn nào tác giả liền có ý kiến nhận định hoặc phê phán. Khi sắp xếp các điều đã ghi được ông không theo phép phiền toái của các loại thư Trung Quốc mà chia thành 9 loại như trên. Mỗi trường hợp tác giả đều liên hệ với thực tế của Việt Nam cho thấy ông luôn lưu tâm đến thực tế, đặc điểm và tinh thần dân tộc.
Tư tưởng của Lê Quý Đôn trong Vân Đài loại ngữ thể hiện ở các mặt sau: Về tư tưởng triết học (Lý - Khí): Lê Quý Đôn vận dụng quan niệm Nho giáo về "Lý" (nguyên lý) và "Khí" (vật chất) để giải thích sự hình thành vũ trụ. Ông coi trọng sự vận động của Khí và mối quan hệ biện chứng giữa các hiện tượng tự nhiên như tinh tú, núi sông, khí hậu. Ông luôn coi trọng thực tiễn nên trong Vân đài loại ngữ thể hiện tư tưởng học đi đôi với hành. Kiến thức được ghi chép để phục vụ việc trị dân, quản lý xã hội và phát triển đất nước. Xuyên suốt tác phẩm là quan điểm "Trên thờ vua, dưới trị dân, giữ trọn chức trách", tôn trọng đạo đức nhà nho, phép tắc phong kiến và kinh điển. Về phương pháp luận khoa học: Tác giả sắp xếp kiến thức (văn học, triết học, khoa học tự nhiên) thành 9 chuyên mục (9 quyển), thể hiện tư duy hệ thống, khả năng quan sát và phân loại tri thức rất khoa học. Ông luôn có tư tưởng trọng hiền tài đề cao vai trò của tri thức và nhân tài, khẳng định đây là cốt lõi để xây dựng quốc gia thịnh vượng.
Với những nội dung phong phú “Vân đài loại ngữ” là một công trình nghiên cứu rất lớn. Bộ tài liệu này giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu văn học, sử học, triết học, địa chí học, ngôn ngữ học và nông học.
Trong thời đại ngày nay với sự giao lưu hội nhập quốc tế sâu rộng về văn hóa, khoa học, những tác phẩm của Lê Quý Đôn đã trở thành di sản văn hóa chung của toàn nhân loại. Thư viện tỉnh Hưng Yên xin trân trọng giới thiệu, kính mời quý độc giả tìm đọc!
Nguyễn Thị Minh
